Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, Mộ Trạch được xem như ngôi làng “số 1” của nước ta về con đường học vấn với hàng chục người thi cử đỗ đạt và ra làm quan giúp đời trong thời kỳ Phong kiến Việt Nam
Vốn là một vùng quê của Đồng bằng châu thổ sông Hồng màu mỡ trù phú, Hải Dương nổi lên là một vùng đất địa linh nhân kiệt, đây là nơi đã sản sinh ra và gắn liền với tên tuổi của không ít những bậc anh hùng dân tộc xuất chúng cho đất nước như: danh nhân quân sự thế giới Trần Hưng Đạo, một trong mười tướng tài trên thế giới, vị anh hùng dân tộc Việt Nam với chiến công hiển hách – ba lần chiến thắng quân Nguyên; Danh sư Chu Văn An, nhà giáo tài đức vẹn toàn, lịch sử tôn ông là nhà nho có đức nghiệp lớn nhất; Hai anh em cùng Đậu Tiến Sỹ làm Quan đồng Triều thời Lý là Mạc Hiển Tích- Mạc Kiến Quang, Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, người có tầm tư tưởng vượt lên nhiều thế kỷ; Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với học vấn đứng đầu cả nước, ông đã góp phần làm rạng danh đất nước; Đại danh y Tuệ Tĩnh, vị thánh thuốc nam được cả nước ngưỡng mộ. Hải Dương cũng là quê hương của Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, cùng với Mạc Đĩnh Chi là những đại thần có tài đức, được xếp vào hàng “Người phò tá có công lao tài đức đời Trần”, được người đời khen tụng.
Đình làng Mộ Trạch Bình Giang Hải Dương
Đình Làng Mộ trạch
Trong đó phải đặc biệt kể đến nền giáo dục khoa cử của Hải Dương, nơi đây được xem là một trong cái nôi đào tạo nhân tài của Việt Nam. Trí tuệ, tài năng của người Hải Dương cũng đóng góp cho sử sách Việt Nam 486 tiến sỹ (tính theo đơn vị hành chính mới, 637 vị tính theo đơn vị hành chính cũ) trong tổng số 2.989 vị đỗ đại khoa qua các triều đại, chiếm 16% (22%) đứng đầu cả nước. Trong đó phải kể đến là làng Mộ Trạch ( xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) được gọi là “lò tiến sỹ xứ Đông” có 36 vị đỗ đại khoa, đứng đầu số người đỗ tiến sỹ tính theo đơn vị làng xã trong cả nước. Vậy vì đâu mà làng Mộ Trạch lại có sự phát tích nhiều tiến sỹ và cống hiến cho đất nước nhiều nhân tài làm rạng danh núi sông và con người Việt Nam đến vậy. Chúng ta hãy cùng vén bức màn bí mật ấy.

Đặc điểm của làng Mộ Trạch

Mộ Trạch là một trong bốn làng của xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nằm ở phía Tây Nam TP. Hải Dương (cách 30 km), cách thủ đô Hà Nội khoảng 50 km và nằm trên quốc lộ 5 hướng đi Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương – Hải Phòng. Làng do Đức thần tổ – Thành hoàng làng Vũ Hồn (804-853) lập ra với cái tên ban đầu mang đầy niềm hy vọng là Khả Mộ trang với dân cư sinh sống đông đúc bao gồm các họ chủ yếu như: họ Vũ, họ lê, họ Nhữ, họ Nguyễn, họ Tạ, họ Cao, họ Đương, họ Trương… Trong đó, họ Vũ chiếm tỷ lệ cao nhất 87,3%.
Theo Hán tự thì Mộ Trạch được gọi là “tiến sĩ sào”. Sào có nghĩa là tổ chim, với ý nghĩa làng Mộ Trạch giống như một tổ chim ủ trứng ấp, nở ra nhiều người học giỏi, đạt được học vị cao quý là trạng nguyên, tiến sĩ, hoàng giáp.

Danh sách khoa bảng

Được biết đến với cái tên “kỳ tích khoa bảng”, làng Mộ Trạch đã sản sinh ra không ít những nhân tài cho đất nước. Theo các tư liệu nghiên cứu, trong khoảng 450 năm, chỉ tính từ năm 1304 đến năm 1754, Mộ Trạch đã có 36 người đỗ Tiến sĩ và 01 trạng nguyên. Trong đó, đời nhà Trần trị vì có 3 người đỗ Tiến sĩ, đời nhà Lê Mạc trị vì có 5 người đỗ Tiến sĩ, đời nhà Mạc cát cứ là thời kỳ rực rỡ nhất với 28 người đỗ Tiến sĩ. Trong số những người nay thì có 05 người thuộc họ Lê, 01 người thuộc họ Nhữ, 29 người thuộc họ Vũ và cũng trong số đó có 01 người làm tể tướng, 04 người làm bồi tụng, 14 người làm thượng thư, 05 người làm quận công…Chỉ riêng đời chúa Trịnh Tráng, làng Mộ Trạch có đến 17 người làm quan trong triều, nên dân gian mới có câu “Mộ Trạch họp làng giữa kinh đô”. Đó là chưa kể đến các các cử nhân, tú tài nhiều không kể hết.

Chính vì vậy mà không có gì khó hiểu khi dân gian coi Mộ Trạch như ngôi làng “số 1” của nước ta về con đường học vấn. Đây cũng là ngôi làng duy nhất trong cả nước được vua Tự Đức (Dực Tôn Anh Hoàng đế) ban tặng lời vàng: “Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ” (Mộ Trạch tài năng bằng nửa thiên hạ).

Trong số 82 văn bia còn lại tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội thì đã có đến 18 bia khắc tên 25 tiến sĩ làng Mộ Trạch. Còn tại Văn Miếu Mao Ðiền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thì có đủ tên của 36 tiến sĩ làng Mộ Trạch.

Dưới đây là danh sách của 36 vị tiến sĩ làng Mộ Trạch:

1. Vũ Đức Lâm, Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1448

2. Vũ Hữu, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng giáp) năm 1463, tác giả của Lập thành toán pháp (trạng toán)

3. Vũ Ứng Khang, hoàng giáp năm 1472

4. Vũ Quỳnh, hoàng giáp năm 1478, người hiệu đính sách Lĩnh Nam chích quái.

5. Vũ Đôn, hoàng giáp năm 1487.

6. Vũ Tụ, hoàng giáp năm 1493.

7. Vũ Thuận Trinh, hoàng giáp năm 1499.

8. Vũ Cán, hoàng giáp năm 1502, tác giả của Tùng Hiên thi tập và Tùng Hiên văn tập

9. Lê Nại, trạng nguyên năm 1505 (trạng chữ).

10. Lê Tư, hoàng giáp năm 1511.

11. Vũ Lân Chỉ, tiến sĩ năm 1520.

12. Lê Quang Bí, hoàng giáp năm 1526.

13. Nhữ Mậu Tổ, tiến sĩ năm 1526.

14. Nhữ Mậu Tô, tiến sĩ năm 1526.

15. Vũ Tĩnh, tiến sĩ năm 1562 (nhà Mạc).

16. Vũ Đường, tiến sĩ năm 1565 (nhà Mạc)

17. Vũ Bạt Tụy, hoàng giáp năm 1634.

18. Vũ Lương, tiến sĩ năm 1643.

19. Vũ Trác Oánh, tiến sĩ năm 1656.

20. Vũ Đăng Long, tiến sĩ năm 1656.

21. Vũ Công Lượng, tiến sĩ năm 1656.

22. Vũ Cầu Hối, tiến sĩ năm 1659.

23. Vũ Bật Hài, tiến sĩ năm 1659.

24. Vũ Công Đạo, tiến sĩ năm 1659.

25. Lê Công Triều, tiến sĩ năm 1659.

26. Vũ Duy Đoán, tiến sĩ năm 1664.

27. Vũ Công Bình, tiến sĩ năm 1664.

28. Vũ Đình Lâm, hoàng giáp năm 1670.

29. Vũ Duy Khuông, tiến sĩ năm 1670.

30. Vũ Đình Thiều, tiến sĩ năm 1680.

31. Vũ Trọng Trình, tiến sĩ năm 1685.

32. Nguyễn Thường Thịnh, tiến sĩ năm 1703.

33. Vũ Đình Ân, tiến sĩ năm 1712.

34. Vũ Huyên, tiến sĩ năm 1712 (trạng cờ).

35. Vũ Phương Đề, tiến sĩ năm 1736, tác giả Công dư tiệp kí

36. Vũ Huy Đỉnh, tiến sĩ năm 1754.

Làng Mộ Trạch phát tích được như vậy là vì:

Truyền thuyết kể lại rằng Vũ Hồn, vốn là ông tổ của dòng họ Vũ, ông là người huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến, là một vị quan của nhà Đường được giao cho trọng trách cai quản nước ta và đã từng làm đến chức An Nam đô hộ phủ. Nhưng sau khi từ quan thì ông lại đưa gia quyến cùng mẹ của mình từ Trung Quốc sang lập ấp tại Khả Mộ; ông cũng vốn là một nhà phong thủy tài ba, đã sang Việt Nam trước cả Cao Biền, khi rảnh rỗi ông từng đi khắp các nơi có thế đất nổi tiếng ở nước Nam như: Cổ Bi thuộc huyện Gia Lâm, Thanh Nhàn thuộc huyện Kim Anh, Xuân Lôi thuộc huyện Vũ Giàng, Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, Hoan Hậu thuộc huyện Quỳnh Lưu…nhưng ông chỉ ưa kiểu đất ở làng Mộ Trạch.
Làng Mộ trạch Hải dương
Theo ông thì nơi đây mạch đất như ruột ốc, ngũ khí chầu về mệnh viên và giữ làng này làm nguyên quán thì thì đời đời sẽ tiến phát về đường khoa bảng, con cháu sẽ nối tiếp nhau đỗ đạt cao. Ông cũng cho rằng cả vùng Hải Dương là một đại cuộc, huyện Đường An là huyệt trường và làng Mộ Trạch là huyệt kết. Vì vậy ông quyết định cắm đất lập trại và đặt tên làng là Khả Mộ. Nghĩa là vùng đất khi đó còn cằn cỗi nghèo nàn nhưng có thể sau này sẽ trở nên trù phú hơn và sẽ được mến mộ. Mãi đến sau này, vào khoảng triều nhà Trần(1226-1400) mới đổi tên là Mộ Trạch. Nghĩa là vùng đất được mến mộ. Theo tư duy đó, sau khi mẹ ông mất, ông đã mang thi hài mẹ lên táng ở dãy núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, thuộc huyện Chí Linh (đây là một trong những nơi được đánh giá: có long mạch đi qua và tiến phát mạnh mẽ về long mạch ở Việt Nam). Đây cũng là một nguyên nhân góp phần làm cho con cháu các đời sau ở làng Mộ Trạch đã tiến phát mạnh mẽ về con đường khoa bảng, quan trường, đặc biệt là con cháu dòng họ Vũ.

Bên cạnh đó, dân gian cũng tương truyền rằng: trong làng Mộ Trạch có một cái giếng khơi rất độc đáo, còn được gọi là giếng chùa Diên Phúc (Diên Phúc tỉnh tuyền) đây là một giếng cổ, nước trong sạch, ngọt và mạch nước lúc nào cũng tuôn chảy, từng nuôi sống hàng ngàn dân làng trong suốt hơn 1150 năm qua. Giếng khơi có đường kính rộng hơn 50m, có hình tròn. Tương truyền rằng, giếng này do phu nhân ngài thủy tổ Vũ Hồn cho người đào để lấy nước sạch cho dân sống ở “Trang Khả Mộ” dùng hàng ngày. Nhân dân trong vùng luôn tin rằng “Nho sĩ Mộ Trạch thông minh, học giỏi là nhờ uống nước giếng có long mạch tốt, nên mới đỗ đạt nhiều: “Hàng trăm ông Cống, một đống ông Nghè, một bè Nho sĩ, một bị Thượng Thư…”. Hiện nay, giếng cổ vẫn còn, vẫn đầy nước xanh biếc như xưa.