Đền Cao An Phụ tên tự là “An Phụ Sơn Từ”  thuộc xã An Sinh – Kinh Môn – Hải Dương thờ An Sinh Vương Trần Liễu. Đền tọa lạc trên đỉnh núi An Phụ với chiều dài 17 km, cao 246m tục được gọi là Đền Cao.
Phía Đông Bắc nhìn về dãy Yên Tử sừng sững, phía Tây Bắc là Động Kính Chủ được mệnh danh là “Nam thiên Đệ lục Động” có dòng sông Kinh Thầy uốn lượn sát chân núi, phía Tây Nam là miền Châu thổ mênh mông. nơi đây phong thủy hữu tình, được sử sách ca ngợi là một trong những cảnh đẹp đáng du ngoạn.

Trần Liễu sinh năm Kiến Gia thứ nhất (1211) là anh ruột của Trần Cảnh - vị vua đầu tiên triều Trần. Ông quê ở Phủ Đệ Tinh Cương , Phủ Long Hưng nay thuộc xã tiến Đức huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
(có một số tài liệu ghi ông quê ở hương Tức Mạc, phủ Thiên Trường, nay là xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm 1237 triều đình cắt đất An Phụ, An Sinh, An Dưỡng, An Hưng, An Bang cho Trần Liễu làm thái ấp và lấy tên đất phong vương cho ông là: An Sinh Vương Trần Liễu. Ông cùng phu nhân Thiên Đạo Quốc Mẫu đã góp phần tạo nên thiên tài Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người con trung hiếu, người anh hùng dân tộc, văn võ song toàn có công lao to lớn trong 3 cuộc kháng chiến chống giặc  Mông Nguyên. An Sinh Vương Trần Liễu mất mồng 1 tháng 4 năm 1251.
Sau khi ông mất được lập đền thờ trên đỉnh núi An Phụ, từ đó ngày 1 tháng 4 âm lịch hàng năm trở thành ngày hội đền cao An Phụ, nhân dân khắp nơi về làm lễ dâng hương tri ân công đức. Đền được xây dựng theo kiểu kiến trúc tiền nhất hậu đinh gồm có  tiền tế, trung từ và hậu cung. Tại gian tiền tế có rất nhiều hệ thống hoành phi câu đối nói về công tích của An Sinh Vương Trần Liễu,  đặc biệt trong hậu cung có thờ tượng Ngài và 2 cháu nội Đệ Nhất Vương Cô và Đệ Nhị Vương Cô cũng là 2 con gái của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu nổi tiếng linh thiêng. Hàng năm có rất nhiều du khách gần xa đã về đây làm lễ dâng hương, chiêm ngưỡng những cảnh quan kỳ thú, cầu được ước thấy và thành công trên mọi lĩnh vực.
 
Tại Quần thể di tích An Phụ có chùa Tường Vân cổ kính tục gọi là Chùa Cao (vì nằm giữa hai đỉnh núi cao nhất của dãy núi An Phụ) được xây dựng vào thế kỷ thứ XIII, dưới triều đại nhà Trần cách ngày nay trên 700 năm, trước chùa có 2 cây đại trên 700 năm tuổi như một bậc cao niên cằn cỗi vẫn đứng đó như nhân chứng lịch sử chứng kiến những biến thiên trên đỉnh núi này. Nhìn xuống dưới là  giếng Ngọc và giếng mắt Rồng đầy nước trong vắt như bức gương phản chiếu phong thủy cho ngôi chùa.
Trải qua những biến cố và những thăng trầm lịch sử, thiên nhiên phong hóa, ngôi chùa đã bị tàn phá rất nặng nề qua nhiều thế kỷ, trong những năm gần đây ngôi chùa đã được phục dựng lại, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách và phật tử thập phương về đây thăm quan cũng như dâng nén hương thơm tại nơi cửa phật, cửa cha để cầu lộc cầu tài, cầu bình an cho gia đình, quê hương, đất nước. Được sự nhất trí của Bộ Văn hóa thông tin, UBND tỉnh Hải Dương năm 2008, UBND huyện Kinh Môn quyết định đại trùng tu và xây dựng lại ngôi chùa Tường Vân cùng với nhà mẫu, lầu cô và một số hạng mục khác để đáp ứng phần nào cho du khách thập phương để di tích lịch sử An Phụ ngày càng trở lên khang trang và tố hảo.
 

Theo đường mòn quanh sườn núi một không gian choáng ngợp với bức tượng Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn sừng sững hùng dũng tọa lạc trên một ngọn núi thuộc dãy An Phụ có độ cao  200m so với mực nước biển, thấp hơn đền cao An Sinh Vương chừng 50m. Công trình tượng đài hoành tráng điển hình của nước ta cuối thế kỉ XX.
 
Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1229 -1300)
                                                                    Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (? -1300)
Tượng Đức Thánh được tạc bằng đá xanh núi Nhồi Thanh Hóa, tượng cao 9,7m; đế 3m gồm 65 phiến đá chia làm 8 thớt gia cố bằng lõi bê tông cốt thép, tượng Đại Vương được tạc ở độ tuổi 55-60 tuổi sau khi hoàn thành 3 cuộc kháng chiến thắng lợi sống trong khung cảnh đất nước thanh bình. Bức tượng thể hiện văn võ song toàn của một vị tướng, chân dung quắc thước nhưng nhân hậu thể hiện tinh thần tự tin, trí nhân, trí trung, trí hiếu.
Ngày 20 tháng 8 năm Quý Dậu (tức 5/10/1993) đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt phiến đá đầu tiên tại nơi xây dựng tượng đài.
Đền cao an phụ
Ngày 18/8 năm mậu Dần (8/10/1998) công trình tượng đài khánh thành đúng dịp kỉ niệm 698 năm ngày mất của Đại Vương. Bên cạnh là bức phù điêu bằng đất nung với chiều dài 45m, cao 2,5m do các nghệ nhân Long Xuyên – Bình Giang – Hải Dương nung và đốt và đây là bức phù điêu bằng đất nung lớn nhất nước ta. Bức phù điêu là bức tranh truyện khổng lồ tái hiện 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của quân dân nhà Trần.
đền cao an phụ

Lễ hội Đền Cao An Phụ hàng năm được tổ chức từ ngày 29/3 đến ngày mồng 1/4 (âm lịch) là ngày chính hội và cũng là ngày mất của An Sinh Vương Trần Liễu, có lễ tế và lễ rước tượng, trong thời gian diễn ra lễ hội có tổ chức các trò chơi như cờ tướng, trọi gà, hát chèo, diễn xướng hầu thánh,…Năm 1992, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Đền Cao An Phụ được xếp hạng là di tích cấp Quốc gia. Ngày 22/12/2016 An Phụ  - kính Chủ - Nhẫm Dương đã được nhà nước xếp hạng quần thể di tích quốc gia đặc biệt.